Muốn thúc đẩy tăng trưởng năng suất nhanh? Hãy tạo áp lực cao cho nền kinh tế: Phỏng vấn Josh Bivens

Thứ ba, 04/04/2017, 09:31 GMT+7

Chúng ta cần đạt được và duy trì trạng thái tận dụng nguồn lao động, và chúng ta cũng thực sự cần tăng trưởng năng suất nhanh hơn. Theo nhà kinh tế học Josh Bivens, mệnh đề thứ nhất sẽ dẫn đến mệnh đề sau.

Josh Bivens điều hành công tác nghiên cứu tại Viện Chính sách kinh tế và là một nhà kinh tế học xuất sắc

 

Q: Xin ông chia sẻ đôi điều về sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng năng suất và tầm quan trọng của nó

A: Năng suất là thước đo mức thu nhập (hoặc đầu ra) được tạo ra trong một giờ làm việc trung bình trong nền kinh tế. Về lâu về dài, cách duy nhất để nền kinh tế có thể tạo ra mức sống cao hơn, tối thiểu là trung bình, là tăng năng suất. Trong ngắn hạn, năng suất đặt ra giới hạn đối với tốc độ tăng lương sao cho không gây ra tăng giá quá nhanh đến mức đẩy lạm phát giá vượt ra khỏi vùng an toàn của Fed. Hiện tại, lạm phát giá vẫn còn thấp hơn mục tiêu 2% của Fed và đã duy trì như vậy trong một thời gian dài. Tuy nhiên tăng trưởng tiền lương đã có một chút cải thiện trong năm vừa qua. Liệu lương tăng có đủ nhanh để đẩy tăng trưởng giá vượt quá mức 2% hay không phụ thuộc vào mức tăng trưởng năng suất cơ bản là 0,5% hay 1,5%. Trong những năm gần đây, con số này là gần 0,5%, nhưng trong bài báo gần đây của tôi, tôi có cho rằng con số này chỉ nên được coi là tạm thời chừng nào chúng ta còn cố gắng đẩy nền kinh tế theo hướng tận dụng lao động.

Q: Ông thấy rằng tăng chậm trong đầu tư vốn sản xuất (ví dụ: máy móc, kết cấu) là nhân tố then chốt dẫn đến suy giảm năng suất. Xin vui lòng ông giải thích cơ chế này. Và có thể thấy trong những năm gần đây, chi phí đi vay đang ở mức rất thấp, liệu có thể hi vọng trong tương lai mức đầu tư sẽ tăng lên hay không?

A: Năng suất tăng lên chủ yếu do ba lý do: công nhân có trình độ học vấn cao và có kinh nghiệm, tiến bộ về công nghệ dẫn đến những phương pháp sản xuất mới, hoặc người lao động được cung cấp nhiều máy móc và thiết bị tốt hơn để làm việc. Đầu tư - chi tiêu nhiều hơn vào nhà máy và thiết bị - đã tăng chậm hơn rất nhiều so với lần phục hồi trước. Điều này dẫn đến giảm tác động thường thấy của việc đầu tư này đối với tăng trưởng năng suất.

Điều này là khá cơ khí - đầu tư ít vốn và vốn góp phần ít hơn cho tăng trưởng năng suất. Ít cơ khí nhưng có khả năng chơi được là sự tăng trưởng chậm trong đầu tư cho nghiên cứu và phát triển cùng với sự tăng trưởng chậm trong tiến bộ công nghệ. Điều có ý nghĩa là nếu các công ty quyết định không đầu tư nhiều vốn vật chất mà họ có thể cũng đang kéo về nghiên cứu. Và cũng có ý nghĩa rằng việc chi tiêu ít hơn cho nghiên cứu và phát triển có thể làm chậm tốc độ tiến bộ về công nghệ.

Có một cơ chế là giảm đầu tư vốn và sẽ giảm tác động của vốn đối với tăng trưởng năng suất hay hạn chế đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sẽ kéo theo hạn chế về tiến bộ công nghệ. Từ chối đầu tư nhiều vào vốn hữu hình có thể đồng nghĩa với việc kéo tụt mảng nghiên cứu. Hạn chế đầu tư vào nghiên cứu và phát triển có thể làm giảm tốc độ cải tiến công nghệ.

(Josh Bivens)

Q: Trong bài viết của ông mới đây, có một câu mà tôi rất thích, đó là “một nền kinh tế áp lực cao có khả năng loại bỏ những yêu cầu còn thiếu hụt của nên kinh tế Mỹ và dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp thấp và mưc tăng lương nhanh sẽ có khả năng thúc đẩy tăng trưởng năng suất nhanh”. Ông có thể giải thích cặn kẽ hơn không?

A: Một điều khiến các công ty đầu tư vào nhiều hơn nữa các tư liệu sản xuất đó là nhân công ngày càng đắt đỏ. Đầu tư vốn thường được tiến hành nhằm thay thế một phần lao động. Và lao động càng đắt đỏ càng đáng để thay thế. Như vậy, nếu chúng ta có thể duy trì tình trang thất nghiệp đủ thấp (tạo ra một thị trường lao động “áp lực cao”) để thúc đẩy tăng lương nhanh do người lao động đã thực sự có quyền mặc cả khi mà các nhà tuyển dụng đang lao vào tuyển dụng và giữ lại nhân viên, và các công ty sẽ nhận ra rằng đầu tư vào vốn tiết kiệm lao động là một phương án hợp lý.

Trong bảy năm qua, chưa hề có áp lực về tiền lương như thế này - giá nhân công rẻ và hầu như lúc nào cũng vậy. Có vẻ như điều này làm giảm tính khẩn cấp của việc đầu tư vào vốn tăng năng suất. Thông thường, mối đe dọa đầu tư vào công nghệ tiết kiệm lao động được sử dụng như một biện pháp ứng phó với việc đòi hỏi mức lương cao hơn (như khi ông Andy Puzder  - người đầu tiên được ông Trump chọn làm Bộ trưởng Lao động và cũng là giám đốc điều hành của một chuỗi thức ăn nhanh đã lập luận rằng việc tăng mức lương tối thiểu sẽ chỉ khiến cho các lao động trong nhà hàng của ông bị thay thế bởi các kiot). Nhưng nhìn từ quan điểm kinh tế vĩ mô thì đây không phải là mối đe dọa, đây chỉ là một lợi ích khác của mức lương cao hơn!

Q: Khoan đã! Có vẻ như là ông ủng hộ việc sử dụng robot làm việc thay người thật. Đây là điều khiến nhiều người cảm thấy lo sợ gần đây. Đó có phải thực sự là những gì ông đang đề xuất không?

A: Chính xác là như vậy! Xét trong ngắn hạn, chúng ta cần nhiều robot hơn, chứ không phải bớt đi. Một bộ phận lao động bị thay thế trong quá trình tự động hóa sẽ phải tìm kiếm công việc mới, nhưng trong một nền kinh tế áp lực cao, họ sẽ có thể tìm được. Và rõ ràng là bất cứ ai thực sự lo lắng về tác động của tự động hóa trong việc làm đều nên hét to chống lại tăng lãi suất trong ngắn hạn. Mục đích của việc tăng này là làm giảm tốc độ tăng trưởng việc làm. Nếu bạn nghĩ rằng robot đang giữ lấy việc làm và dẫn đến quá tải lao động, thì bạn thực sự cần đứng về phái chúng tôi trong việc ủng hộ làm nóng nền kinh tế.

Q: Hình J trong bài viết của ông cho thấy mối tương quan chặt chẽ giữa tăng trưởng tiền lương chậm và tăng trưởng đầu tư. Vì sao tăng trưởng tiền lương lại dẫn đến tăng trưởng đầu tư?

Nguồn: Bivens

A: Quá trình được mô tả ở trên, khi áp lực tiền lương thúc đẩy các công ty chi nhiều tiền hơn vào công nghệ tiết kiệm lao động, có thể đi kèm với sự chậm trễ. Làm sao các công ty biết được rằng việc có nhiều máy móc hơn trong tương lai sẽ giúp tiết kiệm chi phí lao động? Họ biết được điều đó do tăng trưởng nhanh chóng của chi phí lao động trong hôm nay.

Ngoài ra, mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng tiền lương và tăng năng suất rõ ràng là mối quan hệ hai chiều; trong ngắn hạn, khi nền kinh tế đang trì trệ, tiền lương tăng nhanh hơn sẽ dẫn đến đầu tư nhiều hơn. Nhưng xét về dài hạn, với mức đầu tư nhiều hơn sẽ dẫn đến năng suất cao hơn, điều này có thể dẫn đến mức tăng lương tiềm năng cao hơn. Hình này cũng hơi tách biệt mối quan hệ nhân quả một chút, do có hơi kì quặc khi mà đầu tư trong tương lai lại có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng tiền lương của hiện tại.

Q: Vậy là ông hi vọng bà Chủ tịch cục dữ trữ liên bang Janet L. Yellen có thể đọc được bài viết đó và cân nhắc lại việc áp dụng hãm lãi suất?

A: Đúng vậy. Điều này cũng tương tự như vấn đề “khuyết lao động”. Khi sự tham gia của lực lượng lao động (ngay cả những người trong độ tuổi chưa về hưu) đã sớm thất bại hoàn toàn trong quá trình phục hồi, những người làm chính sách có một lựa chọn: chấp nhận đây là một thay đổi vĩnh viễn, hoặc tiếp tục cố gắng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hi vọng thị trường lao động khởi sắc sẽ giúp lôi kéo lại các lao động tiềm năng này. Năm vừa qua là minh chứng cho chiến lược đảm bảo tính phù hợp của chính sách tiền tệ - sự tham gia đã được củng cố rõ rệt. Cần thiết phải áp dụng logic tương tự đối với vấn đề năng suất - nỗ lực khắc phục các thiệt hại gây ra do duy trì nền kinh tế “nguội” trong một thời gian dài bằng một giai đoạn thử nghiệm làm nóng nền kinh tế. Xét đến những kết quả mà nó có thể mang lại, điều này thực sự rất đáng thử nghiệm.  

Q: EPI là tài liệu đầu tiên và phổ biến nhất phân chia giữa tăng năng suất và lợi tức và tiền lương của tầng lớp trung lưu. Trong khi tất cả chúng ta đều hướng tới tăng năng suất nhanh hơn, liệu có cần thiết phải lo lắng rằng nó sẽ không tác động được đến hầu hết các gia đình lao động?

A: Tất nhiên. Tăng trưởng năng suất là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ cho việc tăng lương trên toàn hệ thống. Tuy nhiên, trong trường hợp thúc đẩy tăng trưởng thông qua duy trì nền kinh tế áp lực cao, chúng ta đang dùng một mũi tên bắn trúng hai đích: thúc đẩy năng suất và tăng trọng lượng tiếng nói của những người lao động có mức thu nhập thấp và trung bình - những người cần dựa vào tỉ lệ thất nghiệp thấp trong công cuộc tìm kiếm sự tăng lương.

(Theo: The Washington Post)



Giới hạn tin theo ngày :   từ     đến