Tin tức sự kiện

Hỗ trợ DN phát triển thương hiệu qua sở hữu trí tuệ

08:38 | 13/03/2018

Hoạt động bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp sẽ hướng đến hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó, mũi nhọn là hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thương hiệu và khai thác sáng chế.

Ngày 30/11, thông tin về hoạt động sở hữu trí tuệ trong năm 2017, Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT), Bộ Khoa học và Công Nghệ Đinh Hữu Phí cho biết, Cục đã xử lý 80.599 đơn các loại, trong đó có 39.250 đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp (SHCN). Trong số đó: Chấp nhận bảo hộ 30.106 đối tượng SHCN; từ chối bảo hộ 9.033 đối tượng SHCN và 41.349 đơn các loại khác. Cục cũng cấp văn bằng bảo hộ cho 28.314 đối tượng SHCN (tăng 9,4% so với năm 2016).

Theo Cục trưởng Đinh Hữu Phí, Cục SHTT xác định hoạt động bảo hộ quyền SHCN phải hướng đến hỗ trợ doanh nghiệp. Trong đó, mũi nhọn là hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thương hiệu và khai thác sáng chế.

Theo định hướng này, việc triển khai các Nghị quyết, Quyết định, Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Chương trình hành động của Bộ KH&CN được thực hiện nghiêm túc. Với mỗi Nghị quyết của Chính phủ và Chương trình hành động tương ứng của Bộ, Cục xây dựng kế hoạch triển khai cụ thể.

Đặc biệt, Cục tiếp tục hoàn thiện để đưa vào khai thác công cụ đăng ký đơn SHCN thông qua mạng thông tin điện tử theo tinh thần của Nghị quyết số 36a. Kết quả, đến hết năm 2017, đã có 5.497 đơn đăng ký SHCN được tiếp nhận qua hệ thống nhận đơn trực tuyến (chiếm 9,3% lượng đơn SHCN nộp vào Cục).

Hoạt động tổ chức triển khai Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020 (Chương trình 68) tiếp tục được thực hiện khẩn trương theo kế hoạch. Chương trình được triển khai với định hướng mục tiêu đổi mới, tập trung vào các nhiệm vụ hỗ trợ bảo hộ, áp dụng sáng chế; quản lý và khai thác TSTT của doanh nghiệp; hỗ trợ kiểm soát nguồn gốc và chất lượng sản phẩm được bảo hộ quyền SHTT.

Cục trưởng Đinh Hữu Phí cho biết, năm 2018 Cục SHTT sẽ tập trung hoàn thiện để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược SHTT quốc gia trong quý 2/2018; tập trung triển khai nhiệm vụ liên quan đến sửa đổi Luật SHTT.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế để hỗ trợ cho công tác của Cục và hệ thống SHTT của Việt Nam; hoàn tất thủ tục gia nhập Thỏa ước La-hay về đăng ký quốc tế KDCN; chuẩn bị để thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Đại hội đồng WIPO nhiệm kỳ 2018 – 2019.

Đặc biệt, tăng cường triển khai các dịch vụ công SHTT để hỗ trợ chuyển hóa quyền SHTT của doanh nghiệp, tổ chức thành tài sản quan trọng, đóng góp cho sự phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế; tích cực triển khai Đề án hình thành Mạng lưới các Trung tâm Phát triển tài sản trí tuệ (IP-Hub); triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ thuộc Chương trình phát triển tài sản trí tuệ giai đoạn 2016-2020.

(Nguồn:baochinhphu)



 

Công nghệ mã số mã vạch

08:37 | 13/03/2018

Mã số mã vạch là một trong những công nghệ nhận dạng và thu thập dữ liệu tự động dựa trên nguyên tắc: đặt cho đối tư­ợng cần quản lý một dãy số (hoặc dãy chữ và số), sau đó thể hiện dư­ới dạng mã vạch để máy quét có thể đọc đư­ợc. Trong quản lý hàng hoá ngư­ời ta gọi dãy số và dãy vạch đó là mã số mã vạch (MSMV) của hàng hoá.  

Mã số mã vạch đầu tiên đ­ược chế tạo và đư­a vào sử dụng trên thế giới từ những năm thập kỷ 70 của thế kỷ 20. Do yêu cầu phát triển sản xuất và kinh doanh th­ương mại, công nghệ mã số mã vạch ngày càng đư­ợc nghiên cứu hoàn thiện, phát triển và đư­ợc ứng dụng rộng rãi trong đa ngành kinh tế và trên toàn thế giới. Năm 1973 tổ chức MSMV đầu tiên đư­ợc thành lập, đó là Hội đồng mã thống nhất của Mỹ (viết tắt tên tiếng Anh là UCC). Năm 1977, Hội mã số vật phẩm Châu âu (EAN) ra đời do sáng kiến của 12 nước Châu Âu, đến năm 1984 đổi thành EAN International, là một tổ chức phi lợi nhuận, hoạt động trên cơ sở trung lập với mục đích chính là đẩy mạnh áp dụng hệ thống EAN trên toàn cầu trong tất cả các ngành kinh tế – xã hội nhằm cung cấp ngôn ngữ chung cho th­ương mại quốc tế (đặc biệt là thương mại điện tử. .). Từ năm 2005, hai tổ chức EAN International và UCC hợp nhất thành một tổ chức phân định toàn cầu có tên là GS1.

Mã số GS1 (ví dụ như mã thương phẩm, viết tắt là GTIN) là một dãy chữ số nguyên, trong đó có các nhóm số để chứng minh về xuất xứ hàng hoá: đây là sản phẩm gì? do công ty nào xuất? công ty đó thuộc quốc gia nào?. Do cách đánh số nh­ư vậy, mỗi loại hàng hoá sẽ có dãy số duy nhất để nhận dạng đơn nhất trên toàn thế giới. Đây là một cấu trúc mã số tiêu chuẩn dùng để nhận dạng sản phẩm hàng hoá trên các quốc gia (vùng) khác nhau, t­ương tự như­ cấu trúc mã số điện thoại để liên lạc quốc tế.

Mã vạch GS1 (bar Code) là một dãy các vạch và khoảng trống song song xen kẽ đư­ợc thiết kế theo một nguyên tắc mã hoá nhất định để thể hiện mã số (hoặc cả chữ lẫn số) dư­ới dạng các thiết bị đọc có gắn đầu Laser (Scanner) nhận và đọc được. Thiết bị đọc được kết nối với máy tính và mã vạch đ­ược giải mã thành dãy số một cách tự động, gọi ra tiệp dữ liệu liên quan đến hàng hoá đang lưu trữ trong cơ sở dữ liệu về sản phẩm hàng hóa.

Như­ vậy, mã số GS1 đóng vai trò “chìa khoá” để thu nhận và tra cứu dữ liệu một cách tự động.



 

Đồ chơi Magnetic Putty chứa lượng asen cao gấp 7 lần cho phép

08:36 | 13/03/2018

Một cảnh báo trên toàn châu Âu đã được đưa ra đối với đồ chơi trẻ em Magnetic Putty do có chứa hàm lượng asen cao nguy hiểm.

Cơ quan Tiêu chuẩn Thương mại quận Northamptonshire Anh (NTS) đã phát hiện, đồ chơi “Magnetic Putty” có chứa lượng asen  cao gấp 7 lần mức cho phép.

Amazon, eBay và Groupon hiện đều đã ngưng bán loại đồ chơi này trên trang web của mình.

Tuần trước, một nữ sinh được phát hiện có mức asen trong cơ thể gấp 10 lần mức an toàn sau khi tiếp xúc với loại đồ chơi này.

 



 

Danh sách các tổ chức chứng nhận/giám định chất lượng sản phẩm dệt may được chỉ định

08:35 | 13/03/2018

Ngày 30/10/2016, Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 2960/QĐ-BKHCN về việc thay đổi thành viên Ban điều hành Chương trình Quốc gia ” Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020″ được thành lập theo Quyết định 1391/QĐ-BKHCN ngày 01/6/2016 của Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ như sau:

  1. Ông Trần Văn Tùng, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ là Phó Trưởng Ban Điều hành, thay ông Trần Việt Thanh;
  2. Ông Phạm Văn Trường, Vụ trưởng Vụ Tài chính hành chính sự nghiệp, Bộ Tài chính là thành viên Ban Điều hành, thay ông Nguyễn Trường Giang;
  3. Bà Nguyễn Giang Thu, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là thành viên Ban Điều hành, thay ông Phạm Đồng Quảng.

Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành.

Xem chi tiết Quyết định



 

Quyết định ban hành Quy chế quản lý nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng

08:35 | 13/03/2018

Ngày 13/02/2018, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng ban hành Quyết định số 279/QĐ-TĐC về quy chế quản lý nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng.

Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

Xem chi tiết:





Giới hạn tin theo ngày :   từ     đến